Biến Windows XP thành Lisense – Crack Friday, Nov 28 2008 

New comment:  sau 2009 check online dung tool phia duoi!

Check for Update:

  • Đầu tiên: Vào Start\Run, gõ “Regedit” tìm đến khóa
    “H***_LOCAL_MACHINE\Software\Microsoft\WindowsNT\C u rrent Version\WPAEvents”
    Ở ô bên phải nhân chuột phải vào “OOBETimer” rùi click vào “Modify”. Tiếp đến hãy thay đổi một khóa bất kì (ví dụ 71 thành 72 chẳng hạn).
  • Tiếp theo: Tiếp tục vào Start\Run , và đánh
    “%systemroot%\system32\oobe\msoobe.exe /a”
    Nó sẽ đưa các bác đến cửa sổ “Active windows”. Đừng lo hãy chọn
    “I want to telephone a customer service representative to activate Windows”
    Tiếp đến nhấn “Next” ,nhấn “Change Product ***”
    Các bác hãy nhập cho em cái *** này nha (đây là *** xịn của bác Bill đó)
    DHXQ2-WRGCD-WGYJY-HHYDH-KKX9B
    Đánh xong hãy nhấn “Update”. Nó sẽ lại đưa chúng ta về cửa sổ Active, đừng quan tâm, hãy đóng nó lại bằng cách nhấn vào “Remind me later”
  • Cuối cùng: Kkhởi động lại Windows, vào Start\Run , đánh tiếp
    “%systemroot%\system32\oobe\msoobe.exe /a”
    Cửa sổ “Active” sẽ lại hiện ra nhưng ko phải là bắt chúng ta Active mà là báo cho ta biết “Windows is activated”.

Delete 640… to “OEM”

  • muốn nó trở thành bản quyền thực sự hơn là một điểm bạn phải chỉnh thêm ngay ở dòng chữ

khi bạn phải chuột tại Computer-> properties có dòng.

55274-640-0427404-23751

  • trong khi ở bản chính thức cho một người dùng sẽ là

55274-OEM-0427404-23751

  • chỉnh bằng cách :

Run-> Regedit-> LOCAL_MACHINE\Software\Microsoft\WindowsNT\C u rrent Version
chọn dòng Product ID: nhấp chuột vào xóa chứ 640 thành OEM
–>thế là ok rồi

Nhưng Thực sự thì sau 2009 thi Microsoft da doi lại cách check lissense nên cách trên không còn hữu dụng lắm.

Chỉ còn cách fake windows bằng tool nhỏ này thôi

http://www.mediafire.com/download.php?t0zijhmydxm

Cài Windows Genuine Advantage (WGA) khi kiểm tra online và khi cài đặt vào máy.

Khắc phục tình trạng không logon vào Windows Thursday, Oct 2 2008 

Khắc phục tình trạng máy không logon vào Windows do dính Virus: c:\windows\userinit.exe, c:\windows\system32\system.exe

1. Boot từ CD Hirent Boot

2. Chọn File Manager

3. Chọn Windows 98 mini

4. Vào thư mục C:\Windows xóa file userinit.exe

5. Vào thư mục C:\Windows\system32 xóa file system.exe

6. Vào thư mục C:\Windows\system32 chép File userinit.exe vào thư mục C:\Windows

7. Chọn Restart lại máy tính

8. Đăng nhập Windows bình thường

9. Vào mục Run > Regedit

10. Chọn vào [HKEY_LOCAL_MACHINE\SOFTWARE\Microsoft\Windows NT\CurrentVersion\Winlogon]

11. Sửa đường dẫn tại khóa Userinit là: C:\WINDOWS\system32\userinit.exe

Như sau:

[HKEY_LOCAL_MACHINE\SOFTWARE\Microsoft\Windows NT\CurrentVersion\Winlogon]
“Userinit”=”C:\\WINDOWS\\system32\\userinit.exe”

12. Vậy là OK (không nhất thiết phải xóa file userinit.exe trong thư mục C:\Windows).

Lê Thanh Phong (technical@smart-it.com.vn)

kỹ thuật cơ bản dành cho Iphone Thursday, Aug 19 2010 

Đây là hướng dẫn đưa về DFU (Device Firmware Upgrade):
+ Bật Itunes lên và cắm Iphone với Cable nối máy tính rồi thao tác.
+ Giữ đồng thời 2 nút HOME + POWER trong vòng 5-7 giây máy sẽ tắt và nhả 2 nút ra rồi đếm 5 giây
+ Bắt đầu giữ đồng thời 2 nút HOME + POWER và đếm 10 giây rồi thả nút POWER ra vẫn giữ HOME tiếp 10 giây
+ Theo dõi màn hình Itunes nhận máy và có thông báo là đang ở Recover Mode thì nhả nút HOME ra và nhấn OK vào thông báo để tắt thông báo đi.
– Restore: Giữ nút SHIFT + Nhấn Nút Restore rồi chọn bản FW Build đã Down về và ngồi đợi là xong. (Trên máy MAC là nút Option (alt) thay cho nút SHIFT)

Đưa máy về Restore MODE:
– Rút Iphone ra khỏi cable.
– Giữ HOME+POWER tắt và nhả nút POWER ra
– Vẫn giữ HOME và cắm Cable vào tới khi Itune nhận và yêu cầu Restore

Hiểu vắn tắt là DFU mode dành cho upgrade và chỉnh sửa firmware, khi chuyển qua cài pwned firmware thì phải chuyển qua mode này thì ko bị báo lỗi.

Recovery mode thì dùng để phục hồi firmware, thông thường để phục hồi cùng firmware. Khi máy đang dùng pwned firmware thì chỉ cần dùng mode này để upgrade lên firmware mới hơn.

PWNED là gì?

Đơn giản và ngắn gọn, phần mềm PWNED/WinPwn dùng để phá cái bootloader ở trong con chip S5L8900. Sau khi làm cái này thì mình có thể dùng itunes để restore firmware chưa chứng thực (un-signed) vào phone. Có nghĩa là mình có thể lấy FW từ Apple, sửa đổi nó và dùng cho iphone.

Nên nhớ là nhiệm vụ của PWNED là để xử lý OS bootloader. Sau đó mình dùng PWNED để tạo ra “custom” firmware. Trong quá trình làm ra firmware mới, mình có thể chọn lựa nhiều thành phần cho iphone. Một trong những thành phần đó là cài đặt bootneuter để unlock.

PWNED không có unlock. Unlock là nhiệm vụ của bootneuter.

PWNED = xử lý OS bootloader ở con S5L8900
Bootneuter = xử lý BB bootloader ở con S-GOLD

Hai phương pháp này sẽ cho phép mình flash “unsigned”(chưa chứng thực) OS firmware và BB firmware

OS = Operating System
BB = Baseband

Muốn sử dụng Pwned thì iphone phải chạy firmware 1.1.4 trở lên

Thông thường để restore cho iphone đầu tiên bạn phải xác định:

Máy đang ở ver bao nhiêu và đang dùng bản restore hay custom?

Kiểm tra ver thì dùng phần mềm f0recast-1.0.2 .khi biết được ver rồi bạn có thể restore lại bản custom nếu máy trước đó là bản custom (có thể phải unlock lại) còn không bạn đưa về bản restore và tất nhiên sau đó bạn jailbreak,unlock..
Lưu ý:
Nếu máy bạn đang chứa bản custom bạn có thể restore lại bản restore hoặc bản custom nhưng máy bạn đang chứa bản restore bạn không thể restore sang bản custom mà chỉ là bản restore trừ khi bản đó đã jailbreak.
Nếu bạn để máy ở chế độ DFU bạn có thể restore lại 1 bản restore.
==> Không thể kiểm tra ver bởi f0recast-1.0.2 khi bạn đang ở restore mode or DFU
Vậy jailbreak là gì?
JAIL Break là bước đầu tiên trong quá trình hacking iphone.Khi mà iphone ở trong tình trạng nguyên bản từ nhà máy ra thì các file hệ thống của nó được bảo vệ rât tốt. Để đơn giản hơn, hãy tưởng tượng iphone là một cái xe ô tô . Apple muốn bạn ngồi sau xe, và đây là nơi mà bạn thưởng thức nhạc, video, wallpaper hay là photos. Apple hài lòng khi để bạn ngồi ghế sau của xe, đưa bạn chạy lòng vòng trên con đường mang tên AT&T. Nhưng bây giờ bạn muốn lái xe thì sao?
Những con iphone của chúng ta được ví giống như xe thùng của cảnh sát. Ngăn cách giữa ghế sau và ghế trước là một cánh cửa thép to lớn và nặng trịch. Làm thế nào để vượt qua được cánh cửa này? Lúc này là lúc chúng ta cần đến JAILBREAK. JAILBREAK là một quá trình đưa bạn ra khỏi hàng ghế sau, lên ghế trước nơi mà bạn có thể cầm vô lăng, đạp pedal, điều khiển radio, còi xe..vv. Khi iphone đã JAILBREAK, bạn có toàn quyền điều khiển con dế của mình, bạn có thể chạy bất cứ chương trình gì trên iphone giống như bạn có toàn điều khiển chiếc xe của chính mình.

Unlock là gì?
– Là giải mã cái baseband FW (modem FW) của iphone để nó có thể nhận tín hiệu và đăng ký IMEI của phone với mọi GSM provider

Note: Thường thì thao tác jailbreak thực trước rôi tới unlock.

Hiện tại thời điểm này có thể nâng lên ver bao nhiêu là có thể unlock?
(Bạn đã nâng lên rồi bạn không thể hạ BB xuống để unlock )
Cẩn thận nếu không bạn phải chờ giải pháp unlock có thể rất lâu
Nếu muốn nhanh thì làm hard để unlock liên hệ lamnhattrung_1402 để được giải đáp(www.heaveniphone.com)

Chính vì vậy nếu muốn nâng lên ver cao nhất bạn phải tìm bản custom
Bản custom là bản được edit lại từ bản restore của apple do chúng ta edit thường được tích hợp một số phần mềm ứng dụng cần thiết và có thể đã unlock sẵn vì nó không nâng Baseband (modem fw) lên.

Vậy base band là gì?
Iphone giống như một máy tính sử dụng hệ điều hành MAC thu nhỏ trong đó có tích hợp một cái gọi là GSM modem. Cái mà ta gọi là baseband có thể gọi là phần mềm điều khiển cái modem GSM đó.
Chúng ta thấy khi thực hiện unlock IP (chúng ta cư quan tâm nhiều đến unlock) nhưng thực chất nó có ba phần là Unlock, Jailbreak, Active vậy ý nghĩa của các phần này là gì- Đó là tìm cách truy cập vào hệ điều hành (MAC) để có thể thực hiện các các thao tác đọc, ghi các files. Và cái quan trọng nhất đó là làm sao cho baseband của modem GSM có thể ghi đọc các thông tin trong SIM card không phải là của các nhà cung cấp mạng mà apple đã ký kết. Trên cơ sở đó mà có thể thực hiện được các cuộc gọi đi và nhận các cuộc gọi đến bao gồm cả các dịch vụ khác (SMS, GPRS, ..).

Tại thời điểm này iphone 3G hay 3GS chỉ có thể jailbreak unlock bằng phần mềm blackra1n ở ver 3.1 3.1.2 modem fw 4.26.08 5.11.07..bootloader 5.9 6.02..

Firmware 3.1.3 modem fw 5.12.01..bootloader 5.9,6.02.. chưa thể unlock

Trừ 1 số máy hiếm, có bootloader 5.08 thì may ra unlock vẫn được nếu bị lên ver
3.1.3 (modem fw 5.12.01) dùng Fuzzyband (không làm việc với 3gs)!!

2G (BL 3.9,4.6 BB 04.05.04) jailbreak,unlock ok ver 3.1.3 dùng redsn0w-win_0.9.4 + fw 3.1.2 restore
Bây giờ Apple không nâng cấp BB cho Iphone 2 G

Hiện tại có thể dùng spirit để jb ip 3Gs
Máy 3GS thuộc dòng new bootrom và đang chạy với FW 3.1.2 bb5.11.07 muốn dùng Spirit thì trước tiên máy phải có shsh 3.1.2 + sim đi kèm máy dùng để activated
-Restore lại với bản gốc 3.1.2 , sau đó gắn sim vô máy kết nối với itune để activated
– khi máy dã vô được màn hình menu icon thì chạy Spirit để Jailbreak
-vào cydia cài blacksn0w rc2 final để unlock

*Nếu máy đang chạy fw 3.1.3 + BB= 05.12.01 thì máy chỉ có thể JB bằng spirit và không có unlock. Nên nhớ máy này cũng cần phải activate qua itunes.

ECID là gì?

ECID được viết tắc từ chữ Exclusive Chip ID. Nó là mã số của 1 con chip nhỏ mà Apple đã gắn vào Iphone 3GS và Ipod Touch 3G. Mỗi iPhone là một mã số khác nhau, qua đó, Apple có thể chứng thực được iPhone nào khi kết nối với Server của Apple. ECID không thể thay đổi được bằng software, chỉ có thể thay đổi bằng cách thay chip khác.

File hshsh là gì?

Mỗi iPhone đều có một mã số riêng gọi là ECID. SHSH như là một tờ chứng nhận cho mã số đó. SHSH được lưu trữ trên Server của Apple. Mỗi khi chúng ta restore iPhone của mình, bước thứ 2 là gian đoạn “Verifying with Apple Server”. Đó chính là lúc Itunes đã kết nối với server và đang kiểm chứng xem ECID của mình có hợp lệ hay không thông qua file .shsh đã lưu tại đó.

Có thể dùng phần mềm Auto SHSH: Phần mềm này tự động lấy ECID về máy tính một cách dễ dàng!

Tại sao cần phải lưu file .SHSH tại Cydia?

Như các bạn đã biết, Apple đã không cho chúng ta retore iPhone về phiên bản thấp hơn. Một khi Apple đã kiểm tra ECID (thông qua .shsh), chúng ta chỉ có thể restore ở phiên bản mới nhất của Apple mà thôi. Chính vì vậy, chúng ta cần phải lưu file .shsh của mình vào một server khác (như Saurik) hoặc lấy về máy để sử dụng sau này.

Có 2 cách để restore về phiên bản thấp hơn mà không cần phải qua Server của Apple.

1/ Sửa file hosts trong máy tính của mình, vì mặc định server của Apple trong Itunes là gs.apple.com cho nên chúng ta đưa địa chỉ của một server khác kèm theo gs.apple.com. Ví du : 123.0.0.1 gs.apple.com. Làm như vậy để đánh lừa Itunes cho giai đoạn Veryfying……..Dĩ nhiên, trong server đó phải có file shsh của mình.

2/ Dùng Tinytss để tạo một mini-server ngay trên máy tính của mình. Khi các bạn đã lấy được file shsh về máy tính, cách này rất đơn giản và an toàn hơn lưu file shsh tai Server của người ta. Ví dụ một ngày nào đó server cua Saurik bị down thì file shsh của minh cũng tiêu luôn.

Các bạn nào đang ở FW 3.1.2 thì hãy mau lấy file shsh về máy để phòng thân nhé.(lấy ở Cydia)
Các bạn nào đang ở FW 3.1.3 thì cũng nên lấy về nhé(lấy ở Apple)

Lưu ý : SHSH file thường chỉ cho iPhone 3Gs ipod touch 2g/3g

Nếu ai dùng 3GS đặc biệt là bản lock thì hãy mau lấy shsh file về mà dự phòng lỡ một ngày đẹp trời chẳng may con ip bảnh bao nhà ta treo cáp+đĩa mà blackra1n bó tay hay ăn quả táo to tướng mà có đường mà..mò về.

Nếu như không có shsh file thì sao?

Tất nhiên là bắt buộc ta phải lên 3.1.3 rồi nhưng vấn đề là làm thế nào khi lên 3.1.3 ta vẫn còn giữ được baseband 5.11 để mà unlock (chứ 5.12 thì…bó chiếu)

Có hai phương pháp cho bạn lựa chọn:
1. PP rút cáp ngang
2. Chỉnh sửa firmware
Note: Cả 2 PP đều cần 1 sim nhà mạng gốc của chính cái ip đó để active nó và đều khắc phục được lỗi dính Đĩa+cáp khi tắt mở lại máy.
PP1:
Bước 1:RESTORE
Máy nào đang bị dính cable dĩa hoặc máy nào đang ở màn hình bt (FW 3.1.2) thì cắm vào itunes restore bt ( chọn fw gốc nhé: fw 3.1.3)

BƯỚC 2: RÚT CABLE ( Quan trọng nhất trong toàn bộ quá trình trên )

Khi vừa thấy Itunes hiện thông báo:

VERIFY IPHONE FIRMWARE
RESTORE IPHONE FIRMWARE <– vừa thấy nó đổi sang chữ này là rút cable liền.
khi nó đổi sang chữ này thì màn hình itunes sẽ giống như sau:

Đồng thời cây status restore trên iphone sẽ chạy đc khoảng 2/3:

Lúc này máy của bạn sẽ vào chế độ recovery mode

Bước 3: Dùng Ireb để thoát khỏi RECOVERY MODE

BƯỚC 4: ACTIVE (dùng sim nhà mạng theo máy)

BƯỚC 5: JB dùng spirit

BƯỚC 6:Unlock dùng BLACKSNOW RC2 thế là xong.

Mục đích rút cable ra là để itunes không restore baseband 5.112 cho máy ngay sau thao tác này nhưng đồng thời ngay bước này máy cũng đã restore firmware hoạt động tốt.

PP2:
Bước 1:Serching tìm bản firmware này: iPhone2_1_3.1.3_7E18_Restore_no_up_bb.ipsw
restore lại máy xong báo lổi #6

Bước 2: Dùng Ireb để thoát khỏi RECOVERY MODE

BƯỚC 3: ACTIVE (dùng sim nhà mạng theo máy)

BƯỚC 4: JB dùng spirit

BƯỚC 5:Unlock dùng BLACKSNOW RC2 thế là xong.

Với PP2 có lẽ sẽ an toàn hơn.

——————–
Để kiểm tra máy có thể unlock bằng phần mềm gì bạn có thể dùng f0recast-1.0.2 để kiểm tra.

BL=Bootloader

Bootloader?
Trong iPhone có ít nhất hai loại Bootloader. Một loại có tên gọi là “ARM Core Bootloader”, loại này tương tác với hệ điều hành của iPhone. Loại thứ hai là “Bootloader” mà chúng ta đề cập đến là “Baseband Bootloader”
Như khái niệm dân dã đã thống nhất với các bạn ở trên. Bootloader là bà mẹ, vào phòng của iPhone, gọi iPhone đánh thức nó dậy, đưa ra khỏi giường và chuẩn bị cho nó đến trường. Chức năng chính của Bootloader là đảm bảo cho iPhone thức giấc trước khi ra khỏi giường, đảm bảo nó ra khỏi giường trước đi tắm, tắm trước khi mặc quần áo, và quần áo phải mặc trước khi ra bến xe bus. Nói có vẻ lằng nhằng, nhưng rõ ràng bà mẹ Bootloader này luôn đảm bảo cho đứa con iPhone này một trình tự rõ ràng và chính xác. Hay nói cách khác, nó kiểm soát toàn bộ quá trình khởi động, hoạt động của iPhone. Nếu không có Bootloader thì đứa con iPhone sẽ mãi chỉ là đứa bé ngủ với bộ pijama sũng nước trong bồn tắm đợi xe bus đến.
Bootloader đảm bảo cho iPhone khởi động (Boot) theo đúng trình tự và hoàn thành mọi nhiệm vụ.

Giống như mọi người trên thế gian, iPhone luôn chỉ có một bà mẹ trong cả cuộc đời của mình. Nếu bạn mua iPhone với bootloader phiên bản 3.9 thì bạn sẽ vẫn luôn có Bootloader 3.9 cho dù bạn có Upgrade bao nhiêu lần đi nữa.

Tất nhiên vẫn có những trường hợp mà người ta gọi là mẹ kế. Vậy có thể hiểu có một số người bỏ phiên bản 4.6 để lấy phiên bản 3.9. Có lẽ bạn cũng là một trong số người như vậy

Phiên bản Bootloader quyết định phương thức mà bạn bẻ khóa. Bởi lẽ 3.9 là bà mẹ dễ dãi, thoáng tính. Bà ta cho phép chúng ta làm nhiều thứ trong quá trình iPhone đang được Boot. Qua đó, iPhone của bạn rất dễ dàng tiếp cận.

Quý bà 4.6 thì khó tính hơn rất nhiều. Bà ta luôn khăng khăng đứa con mình sẽ trở thành Tổng thống trong tương lai và luôn theo dõi, kiểm soát những gì iPhone làm hay không thể làm. Ví dụ, 4.6 không cho chúng ta lấy Baseband mà bà ta không kiểm soát được.

Để thẩm tra Baseband, bạn cần Secpack: Là những lời dặn dò an toàn mà ông bố, bà mẹ và đứa trẻ được nhắc nhở nếu ông chú của bạn đến đón bạn ở trường chẳng hạn. Không có Secpack, bạn không thể viết Baseband đã được hack vào iPhone. Hơn nữa, không hack được baseband, bạn không thể sử dụng các phương pháp unlock.

Bootloader – BL – phần boot của con chip.
Baseband – BB – cái modem / con communication chip.
Firmware – FW – phần mềm (phần sụn) của con chip.
Secpack – là cái chìa khóa để mình có thể upload/write firmware vào BB

Còn mấy dòng world không bàn!
OS4.0 thì bàn sau!

Vài trường hợp điển hình restore lên 3.1.2custom (or 3.1.3 custom):

1: Đang ở 1 bản Custom 2.x bất kỳ thì chỉ việc Backup dữ liệu rồi sau đó cắm vào itunes 9.0 trở lên và nhấn SHIFT+RESTORE!

2: Đang ở 1.1.4 thì chỉ cần chạy Bootneuter rồi restore.(nếu không an tâm bạn có thể lên 2.x custom rồi restore thêm lần nữa!)

3: Đang ở 1.0.2 – 1.1.3 thì chỉ cần lên 1.1.4 gốc rồi dùng Winpwn2.0.0.4 chạy Bootneuter sau đó restore lên luôn.(nếu không an tâm bạn có thể lên 2.x custom rồi restore thêm lần nữa!)

4: Nếu đang ở FW 2.x Gốc thì hãy dùng giải pháp chạy QuickPwnGui2.1 để Jailbreak một lần rồi thực hiện TH1 nhé!

5:Nếu đang ở 3.x gốc (Baseband 05.11) thì dùng blackra1n jaibreak rồi chạy 3.1.2 custom vào.

6:Nếu đang ở 3.x custom thì nhấn SHIFT+RESTORE là xong.

Note: Máy 3G 3GS mà lần đầu tiên Restore FW Build (custom) thì cần để máy ở chế độ DFU

Một vài lỗi thường gặp:

+ Các lỗi 1xxx, 9, 12, 2001, 2002 hầu hết là lỗi do cổng USB hoặc Itunes: Bạn đổi cổng USB và làm lại.
+ Lỗi 1,3,5: Chủ yếu là do để sai chế độ Restore hoặc DFU và có thể là lỗi do Restore nhầm bản Build không thích hợp.
– 160x (Khi để sai chế độ hoặc quên không xử lý Bootneuter)
– 1600 khi để ở DFU và lỗi 6 khi để ở Restore Mode
– 1300 khi nhầm Itunes.

chinh sua card mang ubuntu server Monday, May 24 2010 

Note: add new eth device
Gutsy also has no /etc/iftab. I disabled this behavior in two steps:
(1) Edit /etc/udev//rules.d/70-persistent-net.rules
(1.1) comment out or delete all the lines beginning with SUBSYSTEM==”net”
(2) Edit /etc/udev/rules.d/75-persistent-net-generator.rules
(2.1) comment out or delete these two lines:
ACTION==”add”, SUBSYSTEM==”net”, KERNEL==”eth*|ath*|wlan*|ra*|sta*” \
NAME!=”?*”, DRIVERS==”?*”, GOTO=”persistent_net_generator_do”
Deleting these two files would probably work, but I haven’t tried that myself.

Note: add new eth deviceGutsy also has no /etc/iftab. I disabled this behavior in two steps:
(1) Edit /etc/udev//rules.d/70-persistent-net.rules
(1.1) comment out or delete all the lines beginning with SUBSYSTEM==”net”
(2) Edit /etc/udev/rules.d/75-persistent-net-generator.rules
(2.1) comment out or delete these two lines:ACTION==”add”, SUBSYSTEM==”net”, KERNEL==”eth*|ath*|wlan*|ra*|sta*” \NAME!=”?*”, DRIVERS==”?*”, GOTO=”persistent_net_generator_do”
Deleting these two files would probably work, but I haven’t tried that myself.

CÀI ĐẶT NHIỀU HỆ ĐIỀU HÀNH TRÊN CÙNG 1 MÁY TÍNH (được viết bởi RongReu) Sunday, Mar 7 2010 

Giới thiệu
Thiết lập nhiều hệ điều hành trong một máy là một nhu cầu cần thiết cho rất nhiều bạn nghiên cứu và học tập cũng như là một mốt…thời thượng để chúng ta thưởng thức từng cái mạnh của mỗi hệ điều hành. Mục đích của bài nầy là giới thiệu đến các bạn cách install 3 hệ điều hành Windows MEWindows 2k, và Linux RedHat 7.1. Sau đó dùng boot loader của Win2k làm phần chính để điều khiển các hệ điều hành. Nhưng trước khi đi vào install mọi thứ tôi xin trình bày một số điểm cần chú ý cho các bạn chưa hoặc không quen biết lắm với việc cài đặt nhiều hệ điều hành.

Master Boot Record
Là một thuật ngữ được dân computer hay gọi là MBR (bạn sẽ thấy họ nhắc đến những chữ viết tắc nầy nhiều trên internet hoặc trao đổi). Ðây chỉ là một mảng dữ liệu về các partion trong máy, không hơn không kém!
Master Boot Record được tạo do hệ điều hành và dĩ nhiên mỗi hệ điều hành đều có cách tạo riêng biệt. Ví dụ, WinNT4 và Win2k sẽ có file boot.ini dùng như Master Boot Record. Mỗi khi khởi động máy, một chương trình chuyên làm việc loading hệ điều hành của WinNT là NT bootloader (một file loại .exe) sẽ dò tìm nội dung của file boot.ini để load hệ hiều hành cần thiết cho người dùng.
Riêng Windows 98 và Windows ME thì có chút khác biệt, chúng không có chương trình tìm hệ điều hành như NT bootloader và sẽ mặc nhiên load hệ điều hành tại phần partion đầu tiên trong hard disk, thông thường là phần partition C trong hard disk.
Theo mặc định thì MBR sẽ luôn được lưu giử tại ổ dĩa cứng thấp nhất (nếu bạn có nhiều ổ dĩa cứng thứ tự là 0,1,2….) và partition nhỏ nhất của nó (partition đầu tiên trong ổ dĩa số 0, để dể cho ví dụ, tôi tạm gọi nơi nầy là Boot Table). Ðây là một nơi rất quan trọng để BIOS tìm đến khi máy vừa khởi động. Tôi cũng xin nhắc lại để các bạn khỏi nhầm lẫn giửa MBR và nơi để MBR. Một máy tính có thể có nhiều MBR (khi cài đặt một hệ điều hành, nhất là linux, bạn có thể cài MBR tại Boot Sector chứ không nhất thiết là tại Boot Table) tuy nhiên BIOS chỉ tìm đến Boot Table để dò tìm hệ điều hành mà thôi!  Một lổi lầm thường thấy khi bạn cài đặt nhiều hệ điều hành là cài sau khi cài đặt linux vào thì không vào được hệ thống Windows, và ngược lại nếu tái cài đặt windows thì Linux … mất tiêu luôn! lý do là bạn khi cài đặt các hệ điều hành, thằng nào cũng muốn thảy cái MBR của nó vào Boot Table cả! cho nên thằng nào cài đặt sau sẽ xoá hết thông tin của thằng trước đó!  tôi nghĩ đây là gút mắc to nhất cho các bạn trong việc cài đặt nhiều hề điều hành, tuy nhiên chúng ta sẽ có cách dàn xếp ổn thoả để cho cả 3 hệ thống cùng tồn tại.  Ðó cũng là trọng tâm của bài viết.

Boot Sector
Boot Sector thật ra cũng là một mãng dữ liệu chứa thông tin về một partition nào đó, mỗi khi bạn tạo một partition mới thì một Boot Sector sẽ tạo kèm theo trên đầu nó để chứ thông tin về cái partition đó, ví dụ, Boot Sector sẽ cho bạn biết có bao nhiêu Megabyte trong partition, từ điạ chỉ đầu và cuối của nó trong hard disk, còn trống bao nhiêu…. Dĩ nhiên là cấu trúc của mỗi Boot Sector sẽ khác nhau tùy theo hệ điều hành bạn dùng để tạo nó.  Ðể mô tả thêm chính xác vị trí của MBR và các Boot Sector xin xem hình

Bàn lại vấn đề
Tới đây tôi xin bàn lại vấn đề cài đặt 3 hệ điều hành (WinME hoặc Win98, Win2k, và Linux RedHat 7.1). Tiến trình khởi động của một máy tính bao gồm trước tiên là khởi động BIOS từ Motherboard, BIOS sẽ “nhảy” (tìm) đến Boot Table (chứa MBR) để tìm và khởi động hệ điều hành dựa theo thông tin từ MBR. Nếu có nhiều hệ điều hành, BIOS sẽ tự động khởi động hệ điều hành đầu tiên mà nó tìm thấy.
Dĩ nhiên là xong xong với quá trình nầy BIOS sẽ kiểm tra tín hiệu nhập từ bàn phím và kết hợp với thông tin từ MBR để chọn (và khởi động) hệ điều hành. Bạn có thể chọn khởi động hệ điều hành bạn thích bằng cách can thiệp từ bàn phím.
Tới đây bạn sẽ thấy một vấn đề thường gặp khi chúng ta cài đặt hai hệ thống Windows và Linux là sự tranh dành việc quản lý Boot Table. Ðối với hệ thống Windows thì hầu như bạn không gặp cản trỡ nhiều khi cài đặt hai hệ điều hành chung với nhau, theo luật thông thường thì bạn nên cài đặt hệ điều hành version mới hơn sau cùng, ví dụ, bạn nên cài đặt Win98 hay WinME trước, sau đó mới cài đặt Win2k bởi vì Win2k mới hơn. Một đặt điểm của đáng trách của hệ thống Windows là chúng chỉ cài đặt MBR tại Boot Table mà thôi trong khi đó hệ thống Linux cho phép bạn tùy ý cài đặt MBR tại Boot Table hoặc tại Boot Sector.  Ðể dàn xếp xự tranh dành nầy, tôi sẽ cài MBR của hệ thống windows vào Boot Table và cài MBR của Linux vào Boot Sector của nó. Sau đó tìm cách sửa MBR của hệ thống windows để nó cộng thêm Linux trong khi khởi động máy.

Tiến hành cài đặt
Trước tiên bạn nên có 2 cái CD linux 7.1 (xem thêm bài tutorial về cách install Linux RedHat 7.1) và các CD của win ME, win2k …. tôi nêu ra một số tình huống căn bạn như sau để bạn tiện tham khảo:
Tình huống thứ nhất: nếu bạn đã có sẵn hai hệ thống Windows (Win98 hoặc WinME, và Win2k) trên một cái HDD.  Bạn kiểm tra xem hai hệ thống kia đã chiếm hơn 8032MB chưa? Tương tự như hệ thống NT4, Linux Redhat 7.1 sẽ không nhận dạng được dĩa cứng trên 8Gig.  Bạn sẽ có thể gặp khó khăn khi tạo partition cho Linux. Riêng Mandrake 8.0 thì có khả năng nhận dạng được tất cả.  Ðể tránh tình trạng nầy bạn nên cài Linux lên partition của Win2k (bạn sẽ xoá Win2k! Chú ý backup dữ liệu!) sau đó cài Win2k lại sau vì Win2k có thể nhận dạng partition nằm ngoài 8Gig.
Tình huống thứ hai: nếu bạn đã có sẵn hai hệ thống Windows (Win98 hoặc WinME, và Win2k) và có 2 ổ dĩa cứng! Bạn có thể cài Linux vào một trong hai ổ dĩa cứng kia miễn sau nó phải nằm trong phạm vi 8Gig là tốt (xem thêm thông tin ở bài tutorial về Partition Magic).
Tình huống thứ ba: bạn cài mới tất cả!

  • Ðầu tiên bạn nên tạo một partition cho WinME độ 5Gig là quá đủ rồi, cài đặt WinME vào
  • Cài đặt linux Redhat 7.1 vào, trong quá trình cài đặt bạn nhớ chú ý đến việc bỏ MBR của nó vào Boot Sector! (xem thêm bài tutorial về cách install Linux RedHat 7.1). Khi cài đặt bạn nhớ tạo đĩa mền khởi động của RedHat, nhớ giữ nó để sau nầy bạn mới có thể khởi động vào linux được!
  • Cuối cùng là tiến hành cài đặt Win2k, chắc bạn không có gì khó khăn với Win2k cả.

Chỉnh xửa MBR
Trước tiên bạn nên dùng floppy disk cho linux để khởi động vào linux. Sau khi log in (xin xem bài tutorial) bạn nên làm một số việc sau
1) Tìm một cái floppy (được format với Win hoặc DOS) còn trống ít nhất là 1k
2) bạn (tôi cho là bạn biết dùng một số lệnh linux căn bản, giống như dos, xem thêm ở tutorital một số lệnh căn bản của Linx) dùng editor nào đó như vi để mở file sau /etc/lilo.conf
3) sau đó nhìn hàng đầu xem cái boot sector của linux nằm ở đâu, bạn sẽ thấy đại khái như boot=/dev/hdxy.  Trong đó x là số thứ tự hard disk cuả bạn (a, b, c, …) và y sẽ là số thứ tự của partition (1, 2, 3, ….).  Giả sử bạn biết kết quả là /dev/hda2 đi nhe! (để là ví dụ)
4) tạo một directory /tmp (nếu chưa có) sau đó mount cái floppy disk (FAT system) vào directory /tmp rồi copy 512 byte đầu của cái partition (/dev/hda2) bạn vừa tìm được vào floppy. Nếu bạn không chắc thì làm như sau: bỏ đĩa floppy vào ổ đĩa và gõ các lệnh:

mount /dev/fd0  /tmp  -t  vfat
dd if=/dev/hda2 of=/tmp/linux.bin  bs=512  count=1
umount /dev/fd0

5) tới đây bạn sẽ có một file tên là linux.bin trong floppy disk!  Lấy dĩa floppy ra, reboot lại máy để vào Win2k
6) copy cái file linux.bin vào nơi nào đó trong ổ dĩa của Windows, ví dụ bạn bỏ vào C: đi nhé.
7) bạn dùng 1 chương trình text editor nào đó để open file boot.ini (chú ý đây là file hệ thống nên windows sẽ làm ẩn nó, bạn phải đặt options là hiển thị các file ẩn thì mới thấy nó được), thêm vào một hàng như thế nầy: c:\linux.bin=”Welcome to my RedHat Linux”
8) reboot lại máy, bạn sẽ thấy một menu với ba hệ điều hành như ý bạn!

Chú ý:
dd: dump disk, nó tương tự như lệnh copy của dos nhưng dd sẽ copy theo kiểu binay có nghĩa là copy một cách chính xác machine data của đĩa.
a2: là đánh dấu mang ý nghĩa ổ dĩa cứng đầu tiên và partition số 2, nhớ thay đổi chỉ số nầy phù hợp với vị trí cái linux của bạn nhé!!!!
if: input file, chỉ tên của input file, trong tường hợp nầy là ổ thứ tự của ổ dĩa cứng và partition nơi linux đang nằm
of: ouput file, tên của output file
bs: boot sector, chỉ số byte của một sector
count: đếm số lần copy
–> toàn bộ ý nghĩa của lệnh dd trên là copy cái Boot Sector (512 bytes) của linux vào floppy disk và đặt tên nó là linux.bin mà thôi!

Tự tạo Hiren’s Boot trên USB Thursday, Jan 14 2010 

Việc Hiren’s boot tích hợp trên CD Boot quả là tiện lợi. Tuy nhiên, bạn sẽ cảm thấy tiện lợi hơn nếu bạn đem được Hiren’s Boot này lên USB để có thể sử dụng nhanh chóng mọi lúc mọi nơi.

Trong trường hợp máy tính hông có CD Drive hoặc khi ổ CD có vấn đề khi sử dụng thì việc đem Hiren’s Boot lên USB là một điều cần thiết hơn bao giờ hết. Đa phần các thủ thuật cũ hiện đã không thể áp dụng được. Sau đây là thủ thuật mới sẽ giúp bạn có thể đem Hiren’s Boot lên USB để sử dụng mọi lúc mọi nơi khi cần.

Trước khi thực hiện, bạn cần thiết lập BIOS có thể boot được từ USB.

Với AMI BIOS:

• Sau khi vào BIOS, bạn chọn Feature Setup. Enable các chức năng sau lên: ‘USB Function Support”, “USB Function For DOS” và “ThumbDrive for DOS”. Sau đó, bạn chọn tiếp “Advanced Setup”. Chọn “1st Boot Device” là “USB RMD-FDD”.

• Sau đó, bạn vào “USB Mass Storage Device Configuration”. Chọn “Emulation Type” chọn là “Harddisk”. Bạn vào tiếp “Boot Menu” và chọn “1st boot device” là “USB-Stick”. Bạn thoát BIOS là lưu thay đổi.

Với PHOENIX/AWARD BIOS:

• Bạn vào BIOS, chọn “Advanced BIOS Features”. Chọn tiếp “1st Boot device” và thiết lập thông số này là “USB-ZIP”.

Sau đây là các bước chính.

1. Chuan bi mot o usb voi dung luong 256MB hoac lon hon

2. Download va chay chuong trinh USB Disk Storage Format tai day

Sau khi tai ve va cai dat len may, ban chay chuong trinh va thiet lap cac thong so nhu sau (phan Device co the khac tuy thuoc vao USB cua ban)

3. Download va chay chuong trinh grub4dos.zip tai day roi thiet lap thong so lan luot theo cac buoc sau

4. Copy file grldr va menu.lst vao o USB.

5. Dua dia Hiren’s BootCD vao o CD va copy toan bo noi dung cua dia vao o USB. Neu ban khong co mot may khac de tao o USB, co the download tai day file Hiren’s BooCD tu tren mang ve va giai nen file .iso do vao o USB.

Chu y: Viec tao o USB boot nay chi thuc hien doi voi phien ban Hiren’s Boot 9.7 tro len.

Sau khi hoan thien moi thu, trong o USB cua ban phai co day du cac thanh phan sau:

Su dung o USB nay tren may tinh can Ghost va luu y la may tinh do phai duoc thiet lap boot tu o USB.

LINUX Một số cách chạy dịch vụ tự động Thursday, Jan 7 2010 

Các server luôn có nhu cầu khởi động các dịch vụ mình đảm nhiệm lúc boot máy, do đó khi cài một dịch vụ mới lên, bạn phải biết cách làm cho nó tự động chạy. Sau đây là một số cách mà Abel đã làm.

1. Trên các hệ điều hành Debian like (Ubuntu, SuSE…): Dùng công cụ update-rc.d
Ví dụ sau khi cài xong bind (gói DNS Server), Abel muốn cho trình named (file exe của bind) phải tự động chạy khi máy khởi động. Vị trí của file named là: /usr/bin/named.

1.1 Đầu tiên Abel viết một đoạn shell script nho nhỏ với ba nhiệm vụ chính sau đây:
-Kiểm tra xem file /usr/bin/named có thể thực thi được hay không
-Kiểm tra file cấu hình /etc/named có tồn tại hay không
-Nếu hai điều kiện trên thỏa thì xuất ra dòng “Starting named” và chạy file /usr/bin/named

Cụ thể nó thế này:

Code:

#!/bin/sh#file khoi dong named luc boot may if test −x /usr/bin/named −a −f /etc/named.confthenecho “Starting named”/usr/bin/namedFi

(Với những dịch vụ khác cách viết file script là hoàn toàn tương tự)
1.2 Lưu nó lại với cái tên gì đó, ví dụ bootnamed, rồi nhét nó vô thư mục /etc/init.d
1.3 “Biến” nó thành file exe: chmod 755 /etc/init.d/bootnamed
1.4 Dùng lệnh

Code:

update-rc.d bootnamed defaults

Để cập nhật bootnamed vào các thư mục rc.d, các thư mục mà khi
boot hệ thống sẽ vào kiểm tra để lôi dịch vụ ra chạy. Tham số defaults
cho biết bootnamed sẽ được boot tự động ở init-mode default của hệ
thống (ví dụ trong file inittab bạn để init default là 3 thì cứ vào 3
là nó chạy named!)
1.5 Reboot lại máy để kiểm tra

2. Trên các hệ điều hành Redhat like (Redhat, CentOS, Fedora…): Dùng công cụ chkconfig
Đây là một công cụ quản lí service at boottime rất mạnh của Redhat. Ví
dụ để xem các service nào được auto run ở level 3, ta dùng lệnh:

Code:

[root@centos init.d]# chkconfig –list | grep 3:on atd 0:off 1:off 2:off 3:on 4:on 5:on 6:offsyslog 0:off 1:off 2:on 3:on 4:on 5:on 6:offsendmail 0:off 1:off 2:on 3:on 4:on 5:on 6:offautofs 0:off 1:off 2:off 3:on 4:on 5:on 6:offnetwork 0:off 1:off 2:on 3:on 4:on 5:on 6:off…

Để enable một service ở level được định trước:

Code:

[root@centos init.d]# chkconfig wine on [root@centos init.d]# chkconfig –list wine wine 0:off 1:off 2:on 3:on 4:off 5:off 6:off

Disable nó ở tất cả các level:

Code:

root@centos init.d]# chkconfig wine off[root@centos init.d]# chkconfig –list winewine 0:off 1:off 2:off 3:off 4:off 5:off 6:off

Đặc điểm của chkconfig là ta không cần tạo script như với
update-rc.d, mà chkconfig sẽ đọc một số dòng đầu của file thực thi của
dịch vụ (hay còn gọi là file rc) để xác định file thực thi đó sẽ chạy ở
các level nào và độ ưu tiên như thế nào. Ví dụ với dịch vụ sshd ta xem
thử file thực thi nó có cái gì

Code:

[root@centos init.d]# head -8 sshd #!/bin/bash## Init file for OpenSSH server daemon## chkconfig: 2345 55 25# description: OpenSSH server daemon#

Ý nghĩa các tham số:

Code:

# chkconfig: 2345 55 25 | | | | | độ ưu tiên của kill scripts | | | độ ưu tiên của start scripts | các level mà service được start (2, 3, 4, 5)

Giờ ta sẽ đưa named vào các dịch vụ được boot khi khởi động máy
2.1 Kiểm tra named đã được autorun ở level nào chưa:

Code:

[root@centos init.d]# chkconfig –list namednamed 0:off 1:off 2:off 3:off 4:off 5:off 6:off

2.2 Sửa file rc của named lại để cho nó auto run ở level
3. Ban đầu do không autorun ở level nào hết nên 8 dòng đầu của named rc
file có dạng:

Code:

[root@cent init.d]# head -8 named#!/bin/bash## named This shell script takes care of starting and stopping# named (BIND DNS server).## chkconfig: _ 55 45# description: named (BIND) is a Domain Name Server (DNS) # that is used to resolve host names to IP addresses.

Ta sửa dòng chkconfig thành:

Code:

#chkconfig: 3 55 45

2.3 Add named vào trình quản lí chkconfig

Code:

[root@centos init.d]# chkconfig named –add

2.4 Enable nó lên

Code:

[root@centos init.d]# chkconfig named on

2.5 Kiểm tra lại

Code:

[root@centos rc2.d]# chkconfig named –listsshd 0:off 1:off 2:off 3:on 4:off 5:off 6:off

Thế là xong!

Kết: Hãy chắc chắn là bạn hoàn toàn kiểm soát được những dịch vụ nào đang autorun trên hệ thống của bạn.

Next Page »